Wednesday, January 11, 2012

Lost in translation

Khởi đầu năm mới là chuyến đi chơi Siêm Riệp. Ừ thì đền đài hùng vĩ vẫn còn nguyên đó, quán Red Piano vẫn ấm cúng không khác gì nhiều năm trước, chỉ có lần này tôi và các bạn bị lạc vào ma trận ngôn ngữ. Căn nhà trọ ở gần Pub Street xinh xắn, nằm yên tĩnh cuối con hẻm, khổ nỗi yêu cầu gì nhân viên cũng ‘ok’ rồi không thấy gì hết. Chắc là tiếng Anh của bạn chưa tốt lắm nhưng cứ ừ đại cho khách vui lòng :’)
Thực đơn ăn sáng là một danh sách dài những món trứng, vậy mà tìm hoa mắt không thấy món ốp-la quen thuộc. Anh phục vụ nghe tôi hỏi có ‘sunny side up’ không cứ ngơ ngác nhìn khiến tôi ngạc nhiên quá đỗi. Ốp-la không thấy, vậy mà omelette thì phong phú đến chóng mặt. Chinese omelette nhé, Thai omelette nhé, rồi còn gì gì nữa không nhớ nổi. Cô bạn đi cùng đành gọi omelette với hy vọng nó là ốp-la.
Về đến nhà rồi tôi mới ngẫm nghĩ rồi nhớ ra đúng là thoáng thấy trong thực đơn có fried egg, tức là trứng ốp-la. Trước giờ tôi chỉ quen từ ‘sunny side up’ nên hoàn toàn không nghĩ đến nó. Bạn thấy thói quen nguy hiểm đến thế nào chưa?
Nên nhân tiện tôi sẽ phân biệt lại giúp bạn mấy món trứng ăn sáng phổ biến để khi đi du lịch bạn sẽ chọn được món trứng đúng ý nhé:
Fried egg: nói chung là trứng ốp-la (chính là từ chữ ‘au plat’ trong tiếng Pháp). Người ta có thể cụ thể hóa bằng cách nói ‘sunny side up’, tức không lật mặt, hoặc ‘over-easy’, cũng không lật mặt nhưng lòng đỏ còn sống hơn cả ‘sunny side up’.
Scrambled egg: tôi quen gọi là trứng quấy/trứng bác. Tức là khi nấu khuấy nhẹ trứng trực tiếp trên soong/chảo. Khi trút ra dĩa trứng vẫn còn mềm và tự kết dính lại. Người ta có thể thêm một số nguyên liệu tùy thích như hành, cà chua vào, khuấy thêm một chút trước khi trút ra dĩa.
Omelette: tiếng Việt mình chắc gọi là trứng chiên. Trứng đập vào bát, đánh đều rồi mới đổ vào chảo chiên. Có người thích gấp đôi lại trước khi nhắc xuống, thậm chí thêm ít nguyên liệu như thịt muối, phô-mai vào giữa, nhưng cũng có người chỉ chiên một mặt và không thêm gì.
Chà, chỉ có mỗi món trứng thôi mà đã thấy phong phú dễ lẫn lộn quá. Ấy là còn chưa kể đến những món trứng khác ít quen thuộc với người Việt Nam mình, như poached egg (trứng trụng) chẳng hạn. Vậy nên mới có chuyện lost in translation. Nhưng thôi, chúc bạn ngon miệng khi đi du lịch! :’)



Saturday, December 31, 2011

Auld Lang Syne

Sắp nửa khuya rồi, nghe lại bài này để đón năm mới nhé:
Lời ca ‘Auld Lang Syne’ (tức ‘old long since’, hay đơn giản hơn là ‘so long ago’) không dễ hiểu, kể cả với những người nói tiếng Anh, nhưng nội dung chủ yếu nhắc ta trân trọng, không quên những tình bạn, người bạn cũ. Nên bạn “điểm” qua ít lời chính để có chút khái niệm thôi, còn thì lắng nghe giai điệu nhẹ nhàng cũng đủ để lòng lắng lại rồi:
Should auld acquaintance be forgot
And never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot
And auld lang syne?
For auld lang syne, my dear,
For auld lang syne,
We’ll take a cup of kindness yet,
For auld lang syne
And there’s a hand, my trusty friend
And give a hand of thine!
and we’ll take a right good-will draught
For auld lang syne.
Năm mới bình an. 

Monday, December 26, 2011

Slapstick and smut for Christmas! :'0

Giáng sinh năm nay là tám tiếng ngồi xe về quê ăn cưới bạn. Vậy mà bác tài nỡ lòng “tua” lại mấy đĩa ca nhạc, hài hải ngoại đã mở “nhừ tử” trên mọi tuyến đường.
Bạn còn nhớ từ drag act tôi đã viết trong một bài trước không? Nó thuộc dạng slapstick (comedy), tức kiểu hài hước “thị giác”, chủ yếu dựa vào ngôn ngữ của cơ thể (ngớ ngẩn, cường điệu, bạo lực) mà dễ hình dung nhất là hề xiếc, Charlie Chaplin, hay Mr Bean, hay Tom & Jerry. Slapstick là thanh gỗ kép mà khi đập vào ai đó, người này đau thì ít mà tiếng kêu phát ra từ thanh gỗ thì nhiều, khiến “nạn nhân” hết hồn còn “kẻ thủ phạm” được một phen cười vỡ ruột.
Nhưng Charlie Chaplin, Mr Bean hay Tom & Jerry coi thì thích, còn mấy đĩa hài “ruột” của bác tài tôi cười không nổi. Không những thị giác bị tấn công, những lúc cố gắng nhắm mắt ngủ tôi vẫn nghe lộn xộn trong tai những câu hài đầy “hàm ý” (smut), rồi liền theo đó là một tràng cười rộn rã như pháo nổ của khán giả.
Too much slapstick and smutty humour for my taste!

Sunday, December 18, 2011

Icing on the cake


Cuối cùng cũng đã đi gửi được quà cho cô bạn đồng nghiệp cũ ở Anh. Lu bu quá không kịp gửi sớm hơn nên biết chắc cô sẽ nhận quà Giáng sinh muộn. Áy náy, nhưng đành động viên mình lúc nhận quà sinh nhật muộn cô cũng vui vẻ bảo ‘the icing on the cake’.
Icing (frosting theo cách gọi của người Mỹ) là lớp kem phủ trang trí bánh bông lan, làm thành bánh kem. Bạn nào thích nữ công gia chánh chắc sẽ nhớ trước đây chỉ có kem bơ “phe” (không rõ từ “phe” gốc gác từ đâu, chỉ thấy có nơi ghi “phe” nơi ghi ‘fair’), về sau này mới có kem sữa tươi giờ đã trở nên thịnh hành. Lớp kem trang trí này có thể không quyết định sự “sống còn” của chiếc bánh, nhưng dĩ nhiên có nó sẽ hay hơn, thích hơn, cái bánh sẽ đẹp hơn nhiều. Nên mới có chuyện nhận quà muộn cũng là một niềm vui.
She finally found a hotel conveniently located, and the upgrade was the icing on the cake. – Cuối cùng cô cũng tìm được một khách sạn ở nơi thuận tiện, mà thật hay là cô được chuyển lên phòng tốt hơn.
I must get a seat at this fashion show, a near front row would just be the icing on the cake. – Tôi phải kiếm bằng được một vé xem buổi diễn thời trang này, còn nếu được ngồi gần hàng đầu sẽ quá tốt. 

Thursday, December 15, 2011

Animals?


Công viên sáng sáng tôi vẫn đi bộ thể dục có cắm tấm biển ghi ‘Please don’t take animals to the park’. Cứ đọc lại tấm biển này mấy lần là biết sáng đó mình đã đi được mấy vòng. Vậy là xen lẫn giữa những luồng suy nghĩ vẩn vơ về hoa lá và những bài nhạc nhịp điệu nhún nhảy theo những vòng công viên tôi lại có thêm cái để tưởng tượng rồi tủm tỉm cười một mình.
Tôi nghĩ đến cảnh người đi tập thể dục đem hổ, cá sấu, hay đà điểu vào công viên chơi (rồi bị ban quản lý đến ghi phiếu phạt). Hẳn là công viên không muốn khách dắt thú nuôi (cún, mèo cưng) đi dạo trong khuôn viên nhưng chắc dùng nhầm từ pets thành animals? Ngày nay người ta thậm chí nuôi hổ, cá sấu như vật nuôi trong nhà nhưng khi đó, những chú hổ, cá sấu này cũng đã gọi là pets rồi chứ không còn là animals nữa.
Vậy thì chỉ còn một cách hiểu: Quý khách không đem thả thú hoang vào công viên.
:’)

Thursday, December 8, 2011

Chalk and cheese



Sáng nay bế nàng cún đi khám bệnh, gặp một bé chihuahua được chị chủ giới thiệu tên Phô-mai. Đúng là một cái tên ít “phổ thông đại chúng”. Tôi lại ham ăn phô-mai (trừ phô-mai “thúi” từng khiến tôi nằm bẹp cả tuần trời) nên cứ tròn mắt nhìn.
Tặng bạn một thành ngữ cũng dạng ‘as … as …’ có sử dụng “nguyên liệu” phô-mai đây: as different as chalk and/from cheese, nghĩa là rất khác nhau.
Ngoài cặp ‘chalk and cheese’, ‘apples and oranges’ cũng thường được dùng để chỉ những cặp đối tượng khó có thể đem so sánh tương đương. Người Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha thì mượn hình ảnh ‘apples and pears’. Tôi thích nói ‘chalk and cheese’ hơn, một phần vì cả hai từ đều ngắn gọn, lại láy phụ âm ‘ch’, một phần vì thích cái sự tương đồng quá yếu (màu trắng) giữa hai thứ dễ khiến người ta vội vã quy đồng chúng.
They are twins but as different as chalk and cheese. – Chúng nó sinh đôi mà khác nhau một trời một vực.
Tiếng Việt mình còn nói “khác nhau như trăng với sao”, cũng là một lối ví von tinh tế.

Friday, December 2, 2011

bao nhiêu ... bấy nhiêu

He is as voluble as his brother is curt. - Anh trai cộc bao nhiêu thì anh ấy ưa nói bấy nhiêu.
Bạn thấy thế nào? (Tôi sẽ không chuyển thành “Anh ấy ưa nói cũng như anh trai cộc nói” vì dường như nghe không tự nhiên?)
Tương tự, với câu:
She is as good an actress as she is a singer. – Cô ấy hát hay thế nào thì diễn cũng tài như thế ấy / Cô ấy diễn xuất cũng không thua tài ca hát.
Thật ra, tôi không đánh đố bạn chuyện dịch Anh –Việt. Chỉ là cách dùng as … as … phong phú hơn những gì bạn quen nói nên muốn bày ra ở đây. Điều quan trọng hơn là giúp bạn tư duy ngược lại, tức Việt – Anh. Hy vọng sau này mỗi khi muốn nói những ý như trên bạn sẽ  nhớ as … as …, “quen” chứ không hề là “lạ”.  
Cuối tuần vui! :’)