Sunday, January 29, 2012

Center of the universe

Mấy hôm Tết ở nhà đọc được mẩu chuyện ý tưởng không quá mới nhưng vẫn khiến tôi phải cười, muốn kể lại cho bạn, xem như việc trau dồi tiếng Anh tạm nhường sân cho nụ cười một lần.
Chuyện được tóm tắt ngắn gọn lại như thế này:
Ngày đầu tiên. Trời tạo ra bầu trời, quả đất và ánh sáng. Rồi thì đêm xuống – đêm đầu tiên.
Ngày thứ hai. Trời phân tách đại dương với bầu trời. Thế rồi đêm xuống – đêm thứ hai.
Ngày thứ ba. Bạn gái của Trời ghé qua, than phiền gần đây Trời có phần xa cách. Thế rồi đêm xuống, một đêm căng thẳng.
Ngày thứ tư. Trời tạo ra các vì sao. Vừa sắp hoàn thành công việc Trời mới nhận ra đã gần chín rưỡi tối. Trời vội vã làm cho xong rồi vẫy taxi về nhà nàng. Nàng giận. Trời bảo công việc này chỉ là tạm thời. Đợi khi trả dứt mấy khoản vay đóng học phí, Trời sẽ chuyển sang một công việc khác thư thả thời gian hơn. Nàng bảo nàng cũng làm toàn thời gian, nhưng vẫn dành thời gian cho Trời. Trời đáp công việc của nàng khác. Nàng giận vì Trời xem nhẹ công việc của nàng. Nàng dẫn chứng ra rằng hôm nay nàng thậm chí không kịp ăn trưa vì đang là Tuần lễ thời trang, nàng phải tiếp đến mười bốn đại diện nhà bán lẻ. Trời đấm lưng cho nàng, rồi cả hai đồng ý Chủ nhật sẽ đi chơi cùng nhau.
Ngày thứ năm. Trời tạo ra cá và các loại gia cầm. Rồi Trời gọi điện cho nàng hỏi thăm. Nàng kể cho Trời nghe chuyện nói xấu lẫn nhau của mấy cô bạn gái. Nàng nói không dứt, còn Trời bỗng nảy ra ý tưởng tạo ra các loại động vật bò lung tung trên trái đất. Trời lấy tay che ống nói, thì thầm: “Hiện ra voi!”. Vậy là có voi, thế nhưng nàng đã nghe thấy và giận dữ cúp máy.
Ngày thứ sáu. Trời báo bịnh rồi bất ngờ đến tìm nàng ở cửa hàng, bảo muốn được đi chơi cùng nàng cả ngày. Cả hai uống bia ở công viên, chơi game, cười nói vui vẻ, hạnh phúc. Rồi đi xem phim. Trên đường về, nàng bảo Trời: “Em yêu anh nhiều lắm”. Trời đáp: “Anh cũng yêu em”.
Ngày thứ bảy. Trời bỏ việc, bỏ dở dang quả đất còn chưa hoàn thành. 

Wednesday, January 18, 2012

First foot


Vậy là chỉ còn vài ngày nữa là Tết. Người ta đã bày bán bông trên nhiều con phố. Mỗi khi chạy ngang những “điểm tập kết” này, tôi vẫn hay dềnh dàng một chút để được ngửi cái mùi thơm rất Tết của những những chậu cúc, thược dược nằm chen nhau kia.
Người Việt mình có tục xông đất. Mà tin hay không tin, có lẽ ai cũng mong người đầu tiên ghé nhà mình sẽ đem lại nhiều may mắn cho cả năm mới. Tôi nhớ có năm mệt quá ngủ khoèo qua giao thừa, sáng ra hỏi mẹ đêm qua có ai xông đất nhà mình không, mẹ tôi bảo: “Mấy thằng cẩu nhà này chứ ai”. Thì ra nửa khuya lũ cún nhà tôi vẫn được chạy ra sân một chút như ngày thường, thành ra là những nhân vật xông đất nhà mình.
Truyền thống này ở Anh và Scotland cũng có, gọi là first footing. Người xông đất gọi là first foot. Họ cũng như mình, mong người đầu tiên ghé thăm nhà khi vừa qua thời khắc giao thừa sẽ đem lại may mắn. Nhưng bạn nhớ là nếu qua nửa đêm rồi, bạn từ trong nhà bước ra, rồi lại bước vào thì không được xem là first foot nhé.
Chúc first foot của bạn Tết này như mong muốn. 

Wednesday, January 11, 2012

Lost in translation

Khởi đầu năm mới là chuyến đi chơi Siêm Riệp. Ừ thì đền đài hùng vĩ vẫn còn nguyên đó, quán Red Piano vẫn ấm cúng không khác gì nhiều năm trước, chỉ có lần này tôi và các bạn bị lạc vào ma trận ngôn ngữ. Căn nhà trọ ở gần Pub Street xinh xắn, nằm yên tĩnh cuối con hẻm, khổ nỗi yêu cầu gì nhân viên cũng ‘ok’ rồi không thấy gì hết. Chắc là tiếng Anh của bạn chưa tốt lắm nhưng cứ ừ đại cho khách vui lòng :’)
Thực đơn ăn sáng là một danh sách dài những món trứng, vậy mà tìm hoa mắt không thấy món ốp-la quen thuộc. Anh phục vụ nghe tôi hỏi có ‘sunny side up’ không cứ ngơ ngác nhìn khiến tôi ngạc nhiên quá đỗi. Ốp-la không thấy, vậy mà omelette thì phong phú đến chóng mặt. Chinese omelette nhé, Thai omelette nhé, rồi còn gì gì nữa không nhớ nổi. Cô bạn đi cùng đành gọi omelette với hy vọng nó là ốp-la.
Về đến nhà rồi tôi mới ngẫm nghĩ rồi nhớ ra đúng là thoáng thấy trong thực đơn có fried egg, tức là trứng ốp-la. Trước giờ tôi chỉ quen từ ‘sunny side up’ nên hoàn toàn không nghĩ đến nó. Bạn thấy thói quen nguy hiểm đến thế nào chưa?
Nên nhân tiện tôi sẽ phân biệt lại giúp bạn mấy món trứng ăn sáng phổ biến để khi đi du lịch bạn sẽ chọn được món trứng đúng ý nhé:
Fried egg: nói chung là trứng ốp-la (chính là từ chữ ‘au plat’ trong tiếng Pháp). Người ta có thể cụ thể hóa bằng cách nói ‘sunny side up’, tức không lật mặt, hoặc ‘over-easy’, cũng không lật mặt nhưng lòng đỏ còn sống hơn cả ‘sunny side up’.
Scrambled egg: tôi quen gọi là trứng quấy/trứng bác. Tức là khi nấu khuấy nhẹ trứng trực tiếp trên soong/chảo. Khi trút ra dĩa trứng vẫn còn mềm và tự kết dính lại. Người ta có thể thêm một số nguyên liệu tùy thích như hành, cà chua vào, khuấy thêm một chút trước khi trút ra dĩa.
Omelette: tiếng Việt mình chắc gọi là trứng chiên. Trứng đập vào bát, đánh đều rồi mới đổ vào chảo chiên. Có người thích gấp đôi lại trước khi nhắc xuống, thậm chí thêm ít nguyên liệu như thịt muối, phô-mai vào giữa, nhưng cũng có người chỉ chiên một mặt và không thêm gì.
Chà, chỉ có mỗi món trứng thôi mà đã thấy phong phú dễ lẫn lộn quá. Ấy là còn chưa kể đến những món trứng khác ít quen thuộc với người Việt Nam mình, như poached egg (trứng trụng) chẳng hạn. Vậy nên mới có chuyện lost in translation. Nhưng thôi, chúc bạn ngon miệng khi đi du lịch! :’)



Saturday, December 31, 2011

Auld Lang Syne

Sắp nửa khuya rồi, nghe lại bài này để đón năm mới nhé:
Lời ca ‘Auld Lang Syne’ (tức ‘old long since’, hay đơn giản hơn là ‘so long ago’) không dễ hiểu, kể cả với những người nói tiếng Anh, nhưng nội dung chủ yếu nhắc ta trân trọng, không quên những tình bạn, người bạn cũ. Nên bạn “điểm” qua ít lời chính để có chút khái niệm thôi, còn thì lắng nghe giai điệu nhẹ nhàng cũng đủ để lòng lắng lại rồi:
Should auld acquaintance be forgot
And never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot
And auld lang syne?
For auld lang syne, my dear,
For auld lang syne,
We’ll take a cup of kindness yet,
For auld lang syne
And there’s a hand, my trusty friend
And give a hand of thine!
and we’ll take a right good-will draught
For auld lang syne.
Năm mới bình an. 

Monday, December 26, 2011

Slapstick and smut for Christmas! :'0

Giáng sinh năm nay là tám tiếng ngồi xe về quê ăn cưới bạn. Vậy mà bác tài nỡ lòng “tua” lại mấy đĩa ca nhạc, hài hải ngoại đã mở “nhừ tử” trên mọi tuyến đường.
Bạn còn nhớ từ drag act tôi đã viết trong một bài trước không? Nó thuộc dạng slapstick (comedy), tức kiểu hài hước “thị giác”, chủ yếu dựa vào ngôn ngữ của cơ thể (ngớ ngẩn, cường điệu, bạo lực) mà dễ hình dung nhất là hề xiếc, Charlie Chaplin, hay Mr Bean, hay Tom & Jerry. Slapstick là thanh gỗ kép mà khi đập vào ai đó, người này đau thì ít mà tiếng kêu phát ra từ thanh gỗ thì nhiều, khiến “nạn nhân” hết hồn còn “kẻ thủ phạm” được một phen cười vỡ ruột.
Nhưng Charlie Chaplin, Mr Bean hay Tom & Jerry coi thì thích, còn mấy đĩa hài “ruột” của bác tài tôi cười không nổi. Không những thị giác bị tấn công, những lúc cố gắng nhắm mắt ngủ tôi vẫn nghe lộn xộn trong tai những câu hài đầy “hàm ý” (smut), rồi liền theo đó là một tràng cười rộn rã như pháo nổ của khán giả.
Too much slapstick and smutty humour for my taste!

Sunday, December 18, 2011

Icing on the cake


Cuối cùng cũng đã đi gửi được quà cho cô bạn đồng nghiệp cũ ở Anh. Lu bu quá không kịp gửi sớm hơn nên biết chắc cô sẽ nhận quà Giáng sinh muộn. Áy náy, nhưng đành động viên mình lúc nhận quà sinh nhật muộn cô cũng vui vẻ bảo ‘the icing on the cake’.
Icing (frosting theo cách gọi của người Mỹ) là lớp kem phủ trang trí bánh bông lan, làm thành bánh kem. Bạn nào thích nữ công gia chánh chắc sẽ nhớ trước đây chỉ có kem bơ “phe” (không rõ từ “phe” gốc gác từ đâu, chỉ thấy có nơi ghi “phe” nơi ghi ‘fair’), về sau này mới có kem sữa tươi giờ đã trở nên thịnh hành. Lớp kem trang trí này có thể không quyết định sự “sống còn” của chiếc bánh, nhưng dĩ nhiên có nó sẽ hay hơn, thích hơn, cái bánh sẽ đẹp hơn nhiều. Nên mới có chuyện nhận quà muộn cũng là một niềm vui.
She finally found a hotel conveniently located, and the upgrade was the icing on the cake. – Cuối cùng cô cũng tìm được một khách sạn ở nơi thuận tiện, mà thật hay là cô được chuyển lên phòng tốt hơn.
I must get a seat at this fashion show, a near front row would just be the icing on the cake. – Tôi phải kiếm bằng được một vé xem buổi diễn thời trang này, còn nếu được ngồi gần hàng đầu sẽ quá tốt. 

Thursday, December 15, 2011

Animals?


Công viên sáng sáng tôi vẫn đi bộ thể dục có cắm tấm biển ghi ‘Please don’t take animals to the park’. Cứ đọc lại tấm biển này mấy lần là biết sáng đó mình đã đi được mấy vòng. Vậy là xen lẫn giữa những luồng suy nghĩ vẩn vơ về hoa lá và những bài nhạc nhịp điệu nhún nhảy theo những vòng công viên tôi lại có thêm cái để tưởng tượng rồi tủm tỉm cười một mình.
Tôi nghĩ đến cảnh người đi tập thể dục đem hổ, cá sấu, hay đà điểu vào công viên chơi (rồi bị ban quản lý đến ghi phiếu phạt). Hẳn là công viên không muốn khách dắt thú nuôi (cún, mèo cưng) đi dạo trong khuôn viên nhưng chắc dùng nhầm từ pets thành animals? Ngày nay người ta thậm chí nuôi hổ, cá sấu như vật nuôi trong nhà nhưng khi đó, những chú hổ, cá sấu này cũng đã gọi là pets rồi chứ không còn là animals nữa.
Vậy thì chỉ còn một cách hiểu: Quý khách không đem thả thú hoang vào công viên.
:’)